[Truyện ngắn]Tấm gỗ sẹo


Con đường nhỏ rải đá răm ngày trước, tôi vẫn nhớ đến từng đoạn mấp mô lồi lõm. Hồi còn học với nhau, mỗi tháng ít nhất cũng một lần tôi cùng Tuệ đèo nhau về quê cậu ấy ở xóm chài dưới thành phố biển. Bây giờ đường rộng gấp năm sáu lần, trải nhựa phẳng lỳ.
Tôi nói với người lái xe:
– Sắp tới rồi, nơi có cây phượng lão ở đầu đoạn đường đất là chỗ rẽ vào nhà cậu ấy đấy…

 *

Truyện ngắn của Nguyễn Thị Ngọc Hà

Chúng tôi đã đến gần trung tâm thành phố mà vẫn không xác định được lối rẽ có con đường đất. Bây giờ, những ngả đường ngang dọc nhà tầng cao, tầng thấp san sát. Tôi cũng chẳng thấy cây phượng già cỗi nào để định vị nữa. Chúng tôi quay lại con đường rẽ phải đầu tiên. Xe dừng trước ngôi nhà ba tầng, bên ngoài thiết kế khá đẹp. Tầng một trưng bày toàn hàng điện tử. Tôi xuống xe hỏi thăm cụ ông đang ngồi đọc báo trước thềm.

– Xin lỗi! Ông làm ơn cho cháu hỏi thăm: Nơi đây trước kia có cây phượng già, người ta thường gọi là phượng lão phải không ạ?

– Tại sao anh hỏi cây phượng lão?

– Để cháu xác định đường đến nhà bạn cũ ạ.

– Ngày mở đường cây phượng đã bị chặt rồi.

Nhìn người hỏi đường, ông đoán chắc đã lâu lắm không trở lại nơi này.

– Tôi hỏi khí không phải, anh tìm ai, làm nghề gì?

– Anh ấy tên là Tuệ, làm nghề kiến trúc ạ.

– Tôi không biết ông ấy có phải là bạn anh hay không, chỉ biết ở vùng này có một người với cái tên Ông Cả khắc gỗ. Ông ấy thường thiết kế nhà, kể cả nhà cõi dương lẫn nhà cõi âm cho cả vùng ngoại ô này. Ngôi nhà của chúng tôi đây cũng do Ông Cả thiết kế cho đấy.

– Vâng, hy vọng đấy là bạn cháu, vì cậu ấy cũng mê khắc gỗ.

– Thế thì anh đi theo lối này, khoảng hơn một kilômét nữa rẽ trái, cách đường to này khoảng hai mươi mét có ngôi nhà ở giữa khu vườn cây cối xum xuê là nhà Ông Cả đấy.

– Cháu nhớ nhà cậu ấy rẽ phải đi về phía biển…

Thấy tôi băn khoăn, cụ ông giải thích:

– Dưới ấy ngày trước bom bỏ tan tác, Ông Cả chuyển ra ngoài này ngay sau khi đi bộ đội về kia mà.

Mừng quá, tôi cảm ơn cụ, vội vã lên xe.

Từ ngày chia tay nhau, chúng tôi chưa gặp lại. Không hiểu thằng bạn cùng đỗ vào đại học Kiến trúc một khóa, cùng trong tốp ca nam nổi tiếng của trường, cùng nhận quyết định vào tuyến lửa một ngày, và cùng yêu một thiếu nữ xinh nhất phố Hàng Gai thời bấy giờ, hiện nay sống ra sao. Bấm độn năm tháng đã xa lắc, nhưng mọi kỷ niệm một thời hiện về vẫn như vừa mới đây thôi.

                            *

…Hôm ấy vừa ở nhà vào trường, tôi nhận được thông báo: Tôi và 5 sinh viên nữa được kết nạp Đoàn vào dịp 26 tháng 3. Đây là đợt kết nạp cuối của khoa chúng tôi vì chỉ còn mấy tháng nữa đã thi lấy bằng tốt nghiệp.

Tôi chạy lên gặp Phi – Bí thư chi đoàn ngay.

– Tại sao Tuệ lại không được kết nạp? So với tao và những đứa kia nó thua kém gì nào? Thậm chí nó còn học giỏi và nghiêm túc hơn tất cả. Kể cả thằng “già tuổi Đoàn” như mày.

Phi rất ngại phải đối khẩu với tôi, nhưng lần này thì không thể. Cái mặt ngắn chũn của Phi chảy ra.

– Biết rồi, nhưng trong ban chấp hành có ý kiến nhận xét cậu ấy thiếu tính quần chúng, tớ đã nhắc nhở và khuyên cậu ấy nên tranh thủ mấy người kia. Cậu ấy bảo: Tôi không biết sống giả tạo, tay bắt mặt mừng vồn vã mà trong lòng rỗng tuếch về nhau thì tránh xa nhau còn hơn. Cậu nghĩ xem, tôi biết làm thế nào.

– Phi ạ, mày thì thừa cái “tính quần chúng”, nhưng lại thiếu cái tình bạn hữu. Tuệ là đứa dám xả thân vì bạn. Mày có còn nhớ hồi nó đến chậm nửa buổi tập quân sự, chỉ vì trên đường đến bãi tập gặp thằng Thái đang đau ruột thừa cấp, phải đưa vội vào bệnh viện không? Bác sĩ nói chỉ chậm một chút thôi Thái chưa chắc đã cứu được. Lúc ấy trong người Tuệ có bao nhiêu tiền nó đem nộp viện phí cho Thái hết. Đến khi họp khoa, cậu ấy chỉ im lặng nhận khiển trách. Mày là bí thư chi Đoàn, lại là lớp trưởng, ngay lúc ấy cũng im lặng nốt. Đến bây giờ là những ngày tháng cuối cùng học với nhau rồi. Mày cũng nhận biết rất rõ tư cách và học lực của Tuệ. Tại sao mày không đấu tranh bảo vệ nó.

Phi im lặng nghe nhưng mắt lại nhìn đi chỗ khác.

– Chưa kể mày còn nợ nó. Chắc mày không quên mùa thi năm ngoái chứ, nếu không có nó giúp thì mày phải nợ lại hai môn. Có thi lại chưa chắc đã ổn.

Phi vẫn im lặng.

– Bây giờ, nếu chưa vào Đoàn, khi ra trường về một đơn vị nào đó nó lại phải phấn đấu lại từ đầu à? Mày vừa tồi vừa hèn Phi ạ.

Phi ngoắt người bỏ đi, chẳng phản ứng cũng chẳng nói lại lời nào. Lúc ấy tôi chỉ muốn dang tay cản Phi lại, túm ngực nó tông vào bộ mặt ngắn chũn kia một quả đấm cho hả giận.

Biết tôi vừa định gây gổ với Phi chỉ vì vụ kết nạp Đoàn, Tuệ vỗ vai tôi cười:

– Tao còn trẻ, Đoàn lại mãi mãi không già, lo gì không có dịp tao được tuyên thệ trước cờ Đoàn. Thôi quên đi mày.

Vừa nói vừa cười, Tuệ kéo tôi vào thư viện. Tuệ có đôi mắt nâu đen, miệng cười rất tươi, cái miệng cười đôi mắt cũng cười theo, xua tan mọi bực dọc của tôi lúc ấy.

– Tuần này về nhà tao mà đục đẽo cho hết mấy tấm gỗ đi, kẻo vài tuần nữa vào thi là không có thời gian đâu.

– Ừ, tao sẽ về.

 

Minh hoạ: Ngô Xuân Khôi.

Mẹ tôi quý Tuệ như con mình. Lâu không thấy Tuệ về mẹ lại nhắc. Bao giờ có Tuệ mẹ cũng làm thêm một món gì đó lạ miệng cho cả nhà. Tuệ rất mê khắc gỗ. Mỗi bận về nhà tôi cậu ấy lại ngồi lì trên sân thượng, đục, mài giũa tác phẩm của mình. Tuệ khắc tấm chân dung mẹ tôi trông rất có thần. Bức chân dung ấy tôi gìn giữ cẩn thận lắm. Cho đến nay vẫn treo ở vị trí trang trọng nhất nơi tôi đang sinh sống. Vào năm học cuối bỗng dưng cậu ấy rất khác. Thỉnh thoảng đôi mắt Tuệ đang nhìn tôi đấy mà lại như dõi tận đâu, xa lắm. Nhất định có điều gì đã luồn lách trong tâm hồn cậu ta rồi. Một hôm vô tình tôi thấy bức phác thảo bằng bút chì của Tuệ. Tuy là phác thảo nhưng tôi đã nhận ra đấy là chân dung Thúy.

Thúy là con gái út của nhà hàng Phú Thịnh ở giữa phố tôi. Nhà hàng Phú Thịnh chuyên buôn bán hàng tơ lụa. Anh trai nàng là bạn học suốt những năm phổ thông với tôi. Năm Thúy đang học lớp chín, gia đình bị dính vào đợt cải tạo công thương. Sau vận hạn ấy, anh trai Thúy đi lao động ở nông trường Sơn La, được nửa năm anh ấy xung phong nhập ngũ. Thúy nghỉ học ở nhà đan len với mẹ. Ngoài thân hình thon thả với những bước đi khoan thai nhẹ nhàng, trời còn phú cho nàng một khuôn mặt thanh tú, cái miệng cười tươi với đôi mắt đen tròn trong suốt. Đôi mắt ấy thường ánh lên những tia sáng sâu thẳm. Có lần mẹ tôi thăm dò ý con trai.

– Cái Thuý đã ngoan lại đẹp. Hình như mẹ thấy con đã thầm yêu nó, để mẹ đến ngỏ lời với nhà họ nhé.

– Đừng vội mẹ ạ. Con chưa học xong, lại chưa biết công việc sau này ra sao. Hơn nữa, chuyện ấy để tự chúng con đến với nhau trước đã.

Nói với mẹ như thế nhưng trong lòng tôi đã muốn thổ lộ với Thúy từ lâu rồi. Nhưng nàng hồn nhiên với tôi như em gái với anh trai, không ý tứ như đối với Tuệ. Bức phác thảo chân dung nàng sinh động như thế, đủ biết Tuệ yêu Thúy biết nhường nào. Tôi thầm ganh tị ngấm ngầm với cậu ấy.

                          *

Sau môn thi cuối cùng, tôi cùng Tuệ và mấy đứa bạn nữa tổ chức một cuộc liên hoan chia tay tại sân thượng nhà tôi. Nhất định không thể thiếu nàng. Để nàng tự nhiên nhập cuộc, tôi nói với Thúy như anh trai giao việc cho em gái:

– Em làm giúp bọn anh món gì nhẹ nhàng nhé.

– Vâng! Được ạ.

Tôi đưa Thúy tờ tem phiếu thực phẩm. Nàng lắc đầu từ chối. Nhìn hai bím đuôi sam ngắn cũn của nàng ngoắt qua ngoắt lại như cố tình cù vào nỗi thất vọng của tôi. Tình yêu thầm kín trong tôi lại ập đến. Nàng không thể đọc được ý nghĩ của tôi nên vẫn tươi cười hồn nhiên nói:

– Anh cất đi, sớm mai em đến cửa hàng thực phẩm phố Nhà Thờ mua mỡ phèo, loại này không phải mất tem phiếu đâu anh ạ. Mẹ bạn gái em bán hàng ở đấy mà, thế nào bác ấy cũng chọn cho phần ngon nhất.

Đấy là buổi tối cuối tháng năm không thể nào quên. Trên sân thượng không khí càng mát dịu. Nàng cho chúng tôi thưởng thức món bánh khoái, đơn giản mà ngon tuyệt. Bột mỳ trộn với bắp cải non thái chỉ đổ vào lòng chảo láng mỡ nóng già, rồi rắc tép đồng trộn với hành hoa lên trên. Thơm ngậy, thật hấp dẫn. Thúy thao tác thoăn thoắt, ánh lửa bếp dầu hắt lên làm đôi má nàng hồng rực. Phía xa xa ngọn đèn đường đầu phố tỏa sáng lấp lóa những tán lá xanh non, xanh già dưới bầu trời tím thẫm, tạo cho đêm một màu xanh huyền ảo. Nàng ngồi giữa cái phông thiên nhiên ấy, trông như một bức tranh sơn dầu được bố cục khá chặt chẽ, màu nọ quyện với màu kia thật sinh động. Tôi liếc sang thấy Tuệ như đang chìm vào trong bức tranh thiên tạo ấy.

Đêm liên hoan thật vui, nhưng cũng thật buồn. Chưa đến ngày ra trường nhưng chúng tôi đều nhận thấy đây là buổi gặp nhau cuối cùng của thời sinh viên. Tuệ cầm cây ghita từ tay tôi. Đôi mắt cậu ấy như hút tận xa xăm, khi những ngón tay bật lên từng tiếng bập bùng trầm bổng. Âm trầm, trầm đến tê dại, âm bổng, bổng đến nhói lòng. Chúng tôi lắng lại, miên man lang thang trong suy tư của riêng mình. Thúy như thức tỉnh tất cả.

– Các anh hát tặng em bài gì đi, bom đạn thế này ai biết một mai sẽ ra sao.

Nàng nói với tất cả nhưng ánh mắt lại nghiêng về phía Tuệ, câu cuối run run đuối dần. Tôi đọc được ý nghĩ của Thúy nên nói với Tuệ:

– Để xua tan không khí trầm buồn này, Tuệ đệm đàn tớ xin hát tặng các cậu và em Thúy bài “Tôi yêu em”, nhạc của Sêrêmêchiép, thơ của Puskin.

– Có thế chứ – Không khí ở sân thượng sôi nổi hẳn. Tôi sửa lại tư thế ngồi, gần như đối diện với Tuệ và Thúy. Mọi người thường nói tôi có giọng hát ngọt ngào, pha chút hoang dã của dân Digan. Đêm ấy tôi hát bằng tất cả tình yêu thầm kín của tôi dành cho Thúy. Tôi mượn lời của bài ca để nhắn nhủ riêng với nàng.

Bao ngày ôm ấp, trong tôi con tim yêu tha thiết

Cuộc đời từ đây xin dâng hiến cả cho em

Ngọn lửa tình yêu ai nhóm bốc cháy vút cao

Dù lòng chưa dám nghĩ tới em đã yêu tôi

Mà tình yêu đó đã đốt cháy trong tim tôi rồi

Mang trong tâm tư một tình yêu thầm kín

Tôi cầu cho em…

Sẽ tới với người em mến thương

Và người yêu đó… Có trái tim cũng như tôi.

Vừa hát tôi vừa nhìn vào đôi mắt Thúy. Nàng cúi xuống trốn cái nhìn của tôi.

                         *

… Cả khóa Kiến trúc năm ấy có ba sinh viên không được nhận bằng tốt nghiệp, nhưng vẫn có quyết định phân công công tác. Một năm sau họ phải về trường thi lại để lấy bằng. Một trong ba người ấy có Tuệ. Cuộc đời thật bất công với bạn tôi. Tuệ học giỏi nhất nhì trong khoa kia mà. Băn khoăn mãi về kết quả ấy, nhưng tôi cũng đành động viên bạn mình.

– Cậu đừng suy nghĩ nhiều, sang năm về thi lại sẽ ổn thôi mà.

– Tớ tự an ủi mình và đổ tại cái số cho nhẹ lòng cậu ạ.

Tuệ vẫn cười. Cười không thành tiếng. Bàn tay Tuệ bóp chặt tay tôi, không nói thêm lời nào. Nụ cười và cái bắt tay ấy cứ ám ảnh tôi mãi.

Tuệ cầm quyết định về Thanh Hóa, tôi về Nghệ An… Mùa thi năm sau Tuệ vẫn không về trường thi lại. Năm 1972 tôi nhận được tin Tuệ cũng đã nhập ngũ. Chúng tôi bặt tin nhau từ đấy.

Ba năm sau ngày giải phóng, tôi đang làm nghiên cứu sinh ở Đức bất chợt gặp Thái ở Đông Béclin. Thái là cậu bạn mà Tuệ đưa vào bệnh viện mổ ruột thừa dạo trước. Được ngồi với nhau rất ít thời gian, chúng tôi chỉ nói về Tuệ. Thái kể bằng giọng trầm hẳn xuống.

– Xuất ngũ Tuệ nhất định không về trường thi lại. Cậu ấy về quê khắc tranh gỗ tháng tháng chở về Hà Nội ký gửi.

– Thế là uổng công đèn sách mười mấy năm ròng – Tôi thở dài, tiếc cho Tuệ –  Còn chuyện gia đình của nó thế nào, cậu có biết không?

Thái xoáy ánh mắt tinh quái về tôi.

– Cậu không biết thật ư?

– Không.

– Tuệ đã lấy vợ.

– Vợ cùng quê à?

– Không phải cùng quê…

Thái cười khoái chí, thấy tôi nôn nóng cậu ấy mới chậm rãi kể tiếp:

– Đấy là cô gái mà cả hai thằng bạn của tớ, họ thương nhau đến hạt gạo cũng sẻ đôi lại cùng chết mê chết mệt ấy mà. Nàng đã theo chồng về dưới vùng biển rồi.

Tôi lặng đi giây lát. Sâu thẳm trong tôi vẫn còn vương vất hình bóng nàng. Thái đẩy về phía tôi một ly rượu. Cậu ấy kéo tôi về với hiện tại:

– Ta nâng ly này mừng cho hạnh phúc của thằng bạn gàn nhất ấy nào.

                        *

Ngày về nước tôi nhận công tác ở thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi tôi cưới vợ, tôi cũng bán nhà vào sống bên chúng tôi từ hồi ấy.

Dịp trở về Hà Nội sau tám năm biền biệt tin nhau, tôi đã xuống Hải Phòng. Xóm chài hoang tàn, vẫn còn vài hố bom chưa san lấp hết. Tôi hỏi thăm cả buổi, chẳng ai biết Tuệ chuyển về đâu. Vì không thể ở lại thêm được nữa, tôi đành bỏ dở cuộc kiếm tìm. Đến đợt này mới lại trở ra Bắc. Tôi quyết tìm cho ra cậu ấy. Một nửa muốn gặp lại thằng bạn trai thân nhất, một nửa cũng muốn gặp lại người tình trong tâm hồn mình ngày xưa.

Đi theo hướng cụ ông ở đầu phố chỉ đường, chúng tôi dừng trước hai cánh cổng gỗ khép hờ, phía trong có ngôi nhà ngói cổ giữa lùm cây um tùm. Đánh tiếng không thấy ai trả lời, tôi nói với lái xe.

– Đúng ngôi nhà cụ ông ngoài kia chỉ dẫn, nhưng chủ nhà đi vắng. Chúng ta đành ra ngoài quán nước đầu ngõ chờ vậy.

Bà chủ quán niềm nở:

– Mời hai chú vào uống nước. Chắc hai chú chờ gặp Ông Cả khắc gỗ?

– Vâng ạ.

– Ông Cả đang giúp nhà chùa khắc lại mấy mảng hoa văn trên tấm xà dọc bị mối xông.

Ông cụ ngoài kia với bà chủ quán này đều gọi người khắc gỗ kiêm thiết kế nhà là Ông Cả với sự tôn kính. Tôi hoài nghi không biết có đúng Tuệ không. Vừa rót cốc nước chè xanh còn nóng, bà chủ quán lại hỏi:

– Hai chú tìm Ông về việc xây nhà cho mình hay xây nhà cho các cụ? 

Tôi chưa kịp trả lời, bà chủ quán đã nhanh nhảu:

– Nhà ở xây theo bản vẽ của Ông đều được mọi người khen ngợi. Còn xây mộ cho các cụ hay xem hướng xem ngày giờ cưới gả cho con cháu thì các chú khỏi lăn tăn đi, Ông đã giỏi lại mát tay. Vẽ nhà thì Ông nhận tiền còn vẽ mộ chí và xem ngày giờ Ông chỉ làm phúc thôi.

Không biết có phải đấy là Tuệ hay không, nhưng cũng thấy hiếu kì về người đàn ông mà bà đang hết lời tán tụng kia.

– Bà có biết Ông Cả trước kia làm việc ở đâu không ạ?

– Sau chiến tranh mấy năm tôi mới chuyển về ở xóm này, nên chỉ biết từ đấy thôi.

– Bà có thể kể được không ạ?

– Sao lại không, cả vùng này ai cũng biết như tôi đã biết. Nên có tội gì với Ông khi kể cho các chú nghe đâu.

– Cháu cảm ơn bà.

– Hồi Ông Cả mới phục viên, chuyên khắc tranh gỗ chở lên Hà Nội…- Nghe đến đây, cốc nước trên tay tôi run run. “Đúng nó rồi”. Nhưng vẫn cố trấn tĩnh chờ bà chủ quán kể tiếp… – Hình như không bán được mấy. Rồi xin được đi xuất khẩu lao động. Thằng em tôi cũng đi chuyến ấy mà. Đúng là cái tài đi với cái tai một vần, từ việc khắc gỗ cả đấy chú ạ.

Bà chủ quán này thật khéo dẫn chuyện. Bà mặc cho tôi nôn nóng, cứ nhẩn nha từng câu một:

– Không hiểu cao hứng nghệ thuật thế nào ông lại khắc chân dung một vị chính khách có tên tuổi của nước ấy… Nghe nói bức chân dung sinh động lắm, ai xem cũng tấm tắc, chỉ tiếc khi nhìn nghiêng, ánh sáng hắt vào trông như vết chém ngang mặt. Chắc khi cây gỗ còn non đã bị một nhát rìu, đến khi cây lớn dần lên, dẫu chỗ bị chém ấy các thớ gỗ đã cuốn thành vân, nhưng cái bóng của vết rìu vẫn còn. Có người xem bức tranh bảo: “Bỏ đi khắc lại”. Nhiều người khác lại bảo: “Tranh nhìn thẳng chứ ai nhìn nghiêng. Cứ gửi tặng…”.

Bà chủ quán lại rót cốc nước uống vài ngụm rồi mới kể tiếp. Bà kể rành rọt như chính bà cũng ở bên cạnh Tuệ độ ấy.

– Bức tranh chưa kịp đến với chủ nhân của nó thì người bảo vệ của ông ta đến ban quản lý lao động đòi gặp bằng được tác giả. Họ nói người khắc bức tranh này có ý xỏ xiên… Nhận thấy sự việc sẽ rắc rối, bởi ông trưởng ban quản lý chạm phải thái độ không còn sự kiềm chế của họ. Ông ấy buộc phải thoái thác, với lý do: “Người công nhân này bị bệnh nặng buộc phải cho về nước từ tuần trước rồi…”.

Bà chủ quán chép miệng thở dài, nhìn chúng tôi tìm sự sẻ chia với câu chuyện bà đang kể.

– Ngay đêm ấy Ông Cả được bố trí theo tàu hàng của Việt Nam về nước. Từ đấy ông ở nhà luôn.

Tôi bất chợt liên tưởng; số phận Tuệ chẳng khác gì tấm gỗ tốt, hoa vân đẹp, nhưng phía dưới lớp hoa vân kia vẫn có một vết sẹo. Dẫu có dùng tài hoa nghệ thuật để dìm nó xuống, nhưng khi ánh sáng rọi vào vẫn thấy rất rõ cái bóng của nó.

Đã quá trưa, tôi thấp thỏm ngóng ra đường.

– Các chú thấy cổng có khóa không?

– Dạ, không khóa.

– Thế thì có người trong nhà đấy.

Chúng tôi bước vào ngôi nhà được thiết kế theo kiểu nhà của cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Nhà trên ba gian hai trái, nhà dưới hai gian bếp và kho. Quanh vườn toàn cây lưu niên. Sát cạnh bể nước mưa có cây mít trĩu quả. Ngoài thềm rộng, trong nhà phong quang thoáng đãng không bụi bẩn, bàn ghế giường tủ đều trang nhã ngăn nắp. Nhìn lên bàn thờ đặt tại gian giữa, tôi chạm phải ánh mắt của mẹ Tuệ. Lòng tôi bỗng nặng trĩu. Thắp nén nhang tôi vái người mẹ đã thương tôi như con trai mình. Dư vị bữa ăn ngày tôi về xóm biển lần cuối lại ùa về.

Có tiếng mở cổng, tôi chạy ra đón chủ nhà. Trước tôi, người đàn ông nhàu nhĩ vì những nếp nhăn trên khuôn mặt sạm nắng gió. Mái tóc hơi xoăn đã muối tiêu buông dài chấm gáy. Tuệ già hơn tôi tưởng nhiều quá. Lặng đi trong tích tắc, hai thằng tôi lao về nhau…

Người thiếu nữ năm xưa khép cổng vào sau chồng mấy bước chân. Nàng thảng thốt đứng sững giữa sân, nghẹn ngào nhìn hai người đàn ông yêu mình vồ lấy nhau, đấm vào ngực nhau thùm thụp cười váng nhà, rồi lại ôm nhau khóc hu hu như trẻ dại…

 

Categories: Truyện ngắn | Tags: , , | Để lại bình luận

Điều hướng bài viết

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: